Video

Hình ảnh công ty


Hình ảnh công trình


Khoa Học Công Nghệ

Công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi sau khi qua bể Biogas

Ngày đăng : 24/06/11

Công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi sau khi qua bể Biogas


Hiện nay, tốc độ phát triển chăn nuôi ở Vĩnh Phúc tương đối mạnh, nhiều hộ có quy mô chăn nuôi từ vài trăm đầu lợn và số hộ nuôi 20-50 đần lợn khá phố biến.

Phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi phổ biến hiện nay là sử dụng hầm Biogas cải tiến để cung cấp khí gas cho việc đun nấu, thắp sáng và chạy máy phát điện. Nhưng phần nước thải sau Biogas thải ra vẫn làm ô nhiễm môi trường xung quanh.

Để xử lý tiếp nguồn nước thải này nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, mới đây, Trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ đã xây dựng thử nghiệm hệ xử lý công suất 3-5m3/ngày đêm tại trang trại chăn nuôi lợn của ông Trần Văn Thanh, ở thôn Đông Hưng, phường Đồng Tâm (Vĩnh Yên) với tổng diện tích trang trại là 6 ha, trong đó diện tích chăn nuôi 2.500m2, quy mô 700 – 1.000 con lợn, quy mô hầm Biogas 2 chiếc. Tổng đầu tư xây dựng cơ bản là 13.750.000 đồng. Như vậy với một trang trại có tổng lượng nước thải ra khoảng 30-35m3/ngày đêm thì tổng đầu tư cho xây dựng sẽ hết khoảng 17.250.000 đồng.

Các hạng mục chính của hệ xử lý gồm: Bể thu gom và điều hoà nước thải kết hợp phản ứng hiếu khí nhờ hệ thống khuấy trộn, kích thước bể 2x2.5x1.5(m). Bể lọc sinh học kiểu nhỏ giọt kích thước 1x1x2.5 (m) bao gồm 4 lớp vật liệu mang vi sinh dày 20-25cm. Vật liệu mang vi sinh thường được sử dụng ở đây là sỏi nhẹ. Ao sinh học kích thước 5x5.1.2 (m), bơm nước thải thả chìm bằng Inox – công suất KW, máy khuấy động cơ 3 pha - công suất 0,5KW; hệ thống điện điều khiển bao gồm cả chế độ chạy tự động và chạy bằng tay. Đường ống công nghệ nội bộ hệ xử lý, các thiết bị phụ trợ, nuôi vi sinh cho hệ xử lý. Sau khi xây dựng hệ thống và kiểm tra các hạng mục xây dựng thiết kế, Trung tâm đã tiến hành cấy vi sinh lên cá lớp vật liệu mang vi sinh và cho vi sinh thích nghi dần với nước thải cần xử lý bằng cách cho dần nước thải vào hệ và bơm tuần hoàn (trong 15 ngày). Kết quả nước thải sau khi xử lý ở ao sinh học đã có bản đạt đến ngưỡng nước thải loại C theo TCVN 5945 – 2005. Cụ thể tổng chất rắn lơ lửng dao động từ 113mg/l-165m/l (TCCP 200mg/l); COD dao động từ 298mg/l – 315mg/l (TCCB 400m/l). Kết quả cũng cho thấy hệ hoạt động ổn định và hệ vi sinh hoạt động theo nguyên tắc trên cũng ít chịu sự tác động của môi trường bởi thời gian thử nghiệm có thời điểm nhiệt độ ngoài trời dao động quanh 100C trong một khoảng thời gian khá dài (khoảng 1 tháng). Với chi phí vận hành thường xuyên ở hệ thống 4m3/ngày đêm bao gồm máy bơm 0,3KW chạy theo chế độ: hoạt động 20 phút, nghỉ 10 phút (tự động chạy và tự động ngắt theo chu kỳ). Như vậy 1 ngày máy bơm hoạt động 16h, tổng điện năng tiên tốn là 4,8kW. Máy khuấy 0,5KW chạy theo chế độ: hoạt động 10 phút, nghỉ 30 phút (tự động chạy và tự động ngắt theo chu kỳ trên) như vậy 1 ngày mấy khuấy hoạt động 6h, tổng điện nay tiêu tốn là 3KW. Tổng điện năng tiêu thụ là 7,8KW. Giá điện tạm tính 1.000đ/kW, tương đương 7.800. Chi phí cho xử lý 1m3 nước thải là 1.950đồng. Đây là giá toàn toàn có thể chấp nhận được cho việc xử lý nước thải. Qua đánh giá trên có thể thấy công nghệ hoàn toàn có tính khả thi và tính ổn định cao, không phức tạp, vận hành đơn giản, chi phí vận hành không cao, không sử dụng các thiết bị phụ trợ có sử dụng năng lượng nên sẽ giảm thiểu chi phí năng lượng, diện tích xây dựng vừa phải. Nước sau khi xử lý nên dùng để tưới cho cây trồng, không nên xả thẳng ra nguồn tiếp nhận. Nếu muốn xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận như sông, suối, ao hồ thì cần có biện pháp xử lý tăng cường. Ngoài ra để đảm bảo an toàn thì nước sau xử lý cần phải được khử tròng tiếp và cần có các nghiên cứu đánh giá cụ thể vì nước xử lý còn chứa nhiều Nitơ (các hợp chất của Nitơ phản ứng mạnh với hoá chất khử trùng hiện nay, chúng tạo ra các hợp chất cloramin, ở hàm lượng chất khử trùng đủ lớn sẽ phân huỷ hoàn toàn thành Nitơ phân tử bay ra khỏi nước). Công nghệ xử lý này mở ra hướng mới để xử lý nước thải chăn nuôi cho các trang trại, gia trại quy mô vừa và nhỏ. Nó hoàn toàn có thể sử dụng các quá trình vi sinh để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ và các thành phần gây ô nhiễm khác như amoni, nitrit...

Qua đánh giá trên có thể thấy công nghệ hoàn toàn có tính khả thi và tính ổn định cao, không phức tạp, vận hành đơn giản, chi phí vận hành không cao, không sử dụng các thiết bị phụ trợ có sử dụng năng lượng nên sẽ giảm thiểu chi phí năng lượng, diện tích xây dựng vừa phải. Nước sau khi xử lý nên dùng để tưới cho cây trồng, không nên xả thẳng ra nguồn tiếp nhận. Nếu muốn xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận như sông, suối, ao hồ thì cần có biện pháp xử lý tăng cường. Ngoài ra để đảm bảo an toàn thì nước sau xử lý cần phải được khử tròng tiếp và cần có các nghiên cứu đánh giá cụ thể vì nước xử lý còn chứa nhiều Nitơ (các hợp chất của Nitơ phản ứng mạnh với hoá chất khử trùng hiện nay, chúng tạo ra các hợp chất cloramin, ở hàm lượng chất khử trùng đủ lớn sẽ phân huỷ hoàn toàn thành Nitơ phân tử bay ra khỏi nước). Công nghệ xử lý này mở ra hướng mới để xử lý nước thải chăn nuôi cho các trang trại, gia trại quy mô vừa và nhỏ. Nó hoàn toàn có thể sử dụng các quá trình vi sinh để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ và các thành phần gây ô nhiễm khác như amoni, nitrit...

Ngoài ra để đảm bảo an toàn thì nước sau xử lý cần phải được khử tròng tiếp và cần có các nghiên cứu đánh giá cụ thể vì nước xử lý còn chứa nhiều Nitơ (các hợp chất của Nitơ phản ứng mạnh với hoá chất khử trùng hiện nay, chúng tạo ra các hợp chất cloramin, ở hàm lượng chất khử trùng đủ lớn sẽ phân huỷ hoàn toàn thành Nitơ phân tử bay ra khỏi nước). Công nghệ xử lý này mở ra hướng mới để xử lý nước thải chăn nuôi cho các trang trại, gia trại quy mô vừa và nhỏ. Nó hoàn toàn có thể sử dụng các quá trình vi sinh để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ và các thành phần gây ô nhiễm khác như amoni, nitrit...

Trung tâm TTTN & MT (Theo Báo Vĩnh Phúc)